- Nhà thờ Lớn Hà Nội xây
nǎm 1883, chợ Đồng Xuân xây nǎm 1890, Nhà hát Lớn xây nǎm 1911, Phủ
Thống sứ (Nhà khách Chính phủ bây giờ) xây nǎm 1916, trường đại học
Đông Dương (Trường đại học Tổng hợp bây giờ) xây nǎm 1926, trụ sở Hãng
dầu Shell (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường bây giờ) xây nǎm 1930.
Đó là những công trình xây theo kiến trúc Pháp, đều nằm ở các khu phố
cũ. Còn khu phố cổ Hà Nội được hình thành vào nǎm 1883, cùng với nǎm
xây Nhà thờ Lớn, tới nay đã 117 nǎm.
Tôi phục ông tuổi đã ngoài 80 mà "bộ nhớ" còn quá tốt.
Để giúp tôi hình dung
được gương mặt và sự phồn vinh của Kẻ Chợ xưa, ông lấy tập tư liệu ghi
chép trên giá sách, đọc cho tôi nghe những nhận xét của các giáo sĩ
châu Âu thời đó.
Ban-đi-nốt-ti viết: "Kẻ
Chợ không có thành lũy, không có pháo đài. Ngoài cung điện nhà vua lợp
ngói và làm bằng những khối gỗ lớn cầu kỳ, nhà dân đều bằng tre, lợp
rạ, không có cửa sổ". Ma-ri-ni Rô-manh viết: "Đường phố không lát gạch.
Có khoảng 72 lối phố, thoáng đãng không kém gì các lối phố của các
thành phố trung bình ở Italy. Các lối phố đều đầy thợ thủ công và nhà
buôn. Để tránh lộn xộn, nhầm lẫn, đỡ mất thì giờ cho khách tìm kiếm thứ
hàng cần mua, ở ngõ vào mỗi phố đều có tấm biển ghi rõ loại hàng bán ở
đó. Các thứ hàng tốt, quý trong nước và nước ngoài đều được đưa về đây
với số lượng dồi dào. Các thương điếm nước ngoài như Hà Lan, Anh... đặt
ở Thǎng Long để mua các mặt hàng như tơ sống, quế, sa nhân, xạ hương,
chè... bán lưu huỳnh, thuốc súng, chì, bạc, vải, súng đạn, hổ
phách...". Sa-muy-en Ba-rông viết: "Về diện tích, Kẻ Chợ có thể sánh
ngang với nhiều thành phố châu á, nhưng về số dân thì đông hơn so với
phần lớn các thành phố đó" và "Con sông cạnh xưởng đóng tàu, được gọi
là sông Cái, mang lại khá nhiều thuận lợi cho kinh thành. Vô số tàu
thuyền theo dòng sông ra vào Kẻ Chợ, chở đầy ắp hàng hóa, thực phẩm".
- Như vậy, tên gọi "Thǎng Long 36 phố phường" bắt nguồn từ đâu, thưa ông? Tôi hỏi.
- Nǎm 1427, đất Kinh Kỳ
có hai huyện Quảng Đức và Thọ Xương. Mỗi huyện có 18 phường, hai huyện
là 36 phường. Như vậy, phường của Thǎng Long là đơn vị hành chính, cũng
có nghĩa về mặt nghề nghiệp "buôn có bạn, bán có phường". Sự phồn vinh
của Thǎng Long 36 phố phường - tức khu phố cổ hiện nay kể từ thế kỷ 15
nằm từ phía đông Hoàng Thành tới bờ sông Nhị. Có một bài thơ xếp đủ tên
36 phố phường, bắt đầu bằng "Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Buồm,
Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay...
Ông nói tiếp:
- Những phố mang tên các
mặt hàng khác cứ thế phát triển ngày một nhiều, phản ánh nền kinh tế cổ
xưa. Rồi lần lượt xuất hiện các chợ Đồng Xuân - Bắc Qua, Châu Long,
Hàng Bè, Hàng Da, Hòe Nhai... buôn bán tấp nập bên dòng sông Tô.
Ông nhắc tôi những sản
phẩm nổi tiếng của Thǎng Long: nem Vẽ, chuối Sù, cốm Vòng, đậu Mơ, bánh
cuốn Thanh Trì, cờ Mộ Trạch, nhiễu Giấy, lĩnh Bưởi, vải Sài, giấy Yên
Thái, lụa Nghi Tàm, đồ gốm Bát Tràng, nữ trang Hàng Bạc, tượng đồng Ngũ
Xã... Rồi từ các nơi đổ tới Hàng Đào có thợ nhuộm Mộ Trạch (Hải Dương),
tới Hàng Quạt có thợ Ân Thi (Hưng Yên), tới Lò Rèn, Nguyễn Khuyến có
thợ Xuân Phương (Từ Liêm), tới Hàng Bạc có thợ Châu Khê (Hải Dương),
Đồng Xâm (Thái Bình), Định Công (Thanh Trì).
Từ cuộc tiếp xúc bổ ích
đó, buổi chiều tôi đạp xe lên khu phố cổ nằm trong quận Hoàn Kiếm. Theo
quy hoạch, khu này có tổng diện tích khoảng 100 ha, có 76 phố, các phố
Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật ở phía đông, phố Phùng Hưng ở phía tây,
phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng ở phía nam, phố Hàng Đậu ở
phía bắc dẫn tới Hà Khẩu trên bến dưới thuyền, một thời sầm uất. Xe tôi
lǎn bánh trên những lòng đường hẹp - phố ngắn, ngõ nhỏ, rất ít cây
xanh, nhà xây ken nhau, hình thành những nhà ống chụm đuôi ở giữa ô
phố. Nhìn kỹ mới thấy nhà ống là nét đặc trưng của khu phố cổ, đều
thấp, hẹp, mặt tiền chỉ vài mét được xây bằng đủ các chất liệu của
nhiều thời đại. ở các phố Lãn Ông, Hàng Buồm, có mái nhà lợp bằng ngói
âm dương viên chồng, viên vợ lợp lên nhau theo thứ tự sấp, ngửa tạo
thành lòng máng chảy từ nóc xuống, hoặc có mái nhà lợp ngói ta hình mũi
hài trơn. Nhớ thời niên thiếu, qua phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Nón,
vải, nón treo lủng lẳng, quấn cả vào mặt, đụng vào đầu người đi trên hè.
Không chỉ là một trung
tâm kinh tế sầm uất, khu phố cổ này xưa kia, vào ban đêm, còn là nơi
dập dìu tài tử, giai nhân. Ngựa xe như nước, áo quần như nêm". Nhiều
hiệu cao lâu của người Hoa đông khách vì món đặc sản: Đông Hưng Viên,
Mỹ Kinh, Nhật Tân (Hàng Buồm), Asia, Tự Hưng Lâu, Quảng Sinh Long (Hàng
Bông). Nhiều rạp hát có nhiều đào, kép nổi tiếng một thời Quảng Lạc,
Hiệp Thành, Chuông Vàng (Tố Như), Kim Phụng, Kim Lan. Hàng Bạc, ngõ Sâm
Công (Tạ Hiện) tấp nập người đi xem hát. Còn nhớ các bà tiểu thương các
chợ, sau Tết, thường đi "bói tuồng" vào rạp giữa chừng để xem là cảnh
vui hay buồn, suy ra vận làm ǎn may rủi. Tan hát, các hàng quà đêm của
người Hoa đông khách vì những món rất Tàu: bánh bao, bánh trôi Tàu, xôi
nóng, chí mà phù, lục tàu xá... Lại cả mấy rạp chiếu bóng vơ không biết
bao nhiêu tiền vì những phim hợp ý cánh học sinh.
Khu phố cổ còn là mảnh
đất vǎn hóa lâu đời. Những tờ báo hằng ngày Trung Bắc Tân Vǎn, Đông
Pháp, Hà Thành Ngọ Báo, Tin Mới... những tờ tuần báo Phong Hóa, Ngày
Nay, Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ nǎm cả báo Tin tức của Đảng
Cộng sản Đông Dương, rồi các Nhà xuất bản Tân Dân, Âu Tây tư tưởng...
đều đóng trụ sở ở đây. Người Hà Nội vẫn còn nhớ Hội Trí Tri, Hội Truyền
bá quốc ngữ (Hàng Quạt), Hội Khai Trí Tiên Đức (Hàng Trống), nhà số 48
Hàng Ngang, nơi Bác Hồ viết Tuyên ngôn Độc lập, phố hoa đào Cống Chéo
Hàng Lược, phố câu đối Tết Hàng Bồ...
Tôi tới phố Mã Mây, đứng
trước cǎn nhà thấp, hẹp, sâu, bên trong có gác, mặt tiền hai bên là
những tấm cửa bức bàn, phía trên có một hàng con tiện bằng gỗ quét sơn
ta mầu gụ, trong nhà các kèo cột đều chạm trổ hoa vǎn cổ. Ngoài cửa,
trên tường treo tấm biển đồng khắc ba thứ tiếng Việt - Pháp - Anh:
"Ngôi nhà 87 Mã Mây đã được cải tạo trong khuôn khổ hợp tác giữa
Tu-lu-dơ (Pháp) -Hà Nội (Việt Nam) và được khánh thành ngày 27-10-1999".
Tôi lại đạp xe tới số 38
Hàng Đào đang được tốp thợ của Công ty tư vấn kiến trúc đô thị Hà Nội
cải tạo từ ngày 16-2. Hỏi chuyện anh đội trưởng trẻ, tôi được biết đây
là cửa hàng bách hóa đã dọn đi, nhà xây gần trǎm nǎm nay, dài 55 m,
ngang 5,5 m nhưng đuôi thót còn 1,1 m trên gác phía trong còn để lại
tấm bia đá gắn trên tường. Cǎn nhà sẽ được tôn tạo theo nguyên mẫu kiểu
cổ, cũng là công trình hợp tác giữa Tu-lu-dơ và Hà Nội.
Tiện dịp, tôi xin phép
vào thǎm mấy hộ ở cùng phố. Giữa thời kinh tế thị trường, nhà nào cũng
bung ra buôn bán, làm dịch vụ. Tuy nhà ngoài bán hàng nhưng có nhà bên
trong bày bàn thờ, treo hoành phi, câu đối cùng các đồ thờ cổ, quý giá.
Có nhà bầy sập gụ, tủ chè cánh cong khảm trai, sa-lông Tàu giữ phong
cách cổ truyền, nếp sinh hoạt tao nhã của người Việt Nam.
Sau mấy ngày đi lại và
hỏi chuyện bà con, tôi rút ra mấy nhận xét. Trước hết, từ lâu các
phường nghề đã mai một, mặt hàng thủ công truyền thống không còn. Dân
phố, trừ những người đi làm ở cơ quan Nhà nước hoặc doanh nghiệp, đều
chuyển sang buôn bán, làm dịch vụ. Vỉa hè cạnh nhà xếp đầy hàng. Lòng
đường đan xen các loại xe chở hàng. Còn dân cư đông đúc, ở quá chật, có
lẽ bình quân chỉ được 1 m2 mỗi người, nhà cửa tồi tàn, xuống cấp nặng.
Một điều không thể ngờ là nhà không có hố xí chiếm tới 50% và 20% số
nhà không có bếp. Trong ngõ tối, ánh sáng tự nhiên không len vào được,
phải dùng ánh sáng điện, có bóng điện thắp suốt ngày đêm. Thiếu cả nước
sinh hoạt. Nhà ở vẫn thế nhưng dân số ngày càng phát triển, có nhà
trước chỉ là một hộ, nay tǎng lên vài hộ, rồi trên chục hộ, có cửa hàng
do mặt tiền hẹp, anh em trong nhà phải chia nhau để bán hàng. Đến thời
đổi mới, bảy, tám nǎm gần đây, nhiều ông chủ giàu sụ đến mua nhiều ngôi
nhà cổ, đập đi, xây khách sạn, nhà hàng, công ty kinh doanh cao ngất,
lấp loáng những ô kính đen, kính trắng, ban đêm biển hiệu chạy điện vụt
sáng, vụt tắt, phá vỡ cảnh quan khu phố cổ. Kể cả những chủ nhân vì sự
bức xúc của cuộc sống, không chịu nổi cảnh ǎn ở chật chội, ẩm thấp,
chung chạ, phải tự phá nhà, xây lên nhiều tầng, tuy không được phép của
cơ quan chức nǎng, nếu phạt thì nộp ngay.
Tôi đến Ban quản lý phố
cổ Hà Nội ở Hàng Buồm, kể lại những nhận xét trên với bà Tô Thị Toàn,
kiến trúc sư, Phó trưởng ban. Bà nói:
- Ngày 4-6-1999, ủy ban
Nhân dân thành phố đã ra quyết định ban hành "Điều lệ tạm thời về quản
lý xây dựng, bảo tồn và tôn tạo khu phố cổ Hà Nội". Điều lệ nói kỹ, có
nhiều nét mới, hy vọng giải đáp được những khúc mắc của nhân dân phố cổ.
- Bà có thể cho biết tóm tắt những nét chính được không?
- Thành phố bảo tồn
trung tâm thương mại Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường, Đồng Xuân theo
phong cách kiến trúc đặc hữu của khu phố cổ. Mạng lưới đường vẫn giữ
nguyên. Thành phố bảo tồn, tôn tạo các công trình hoặc cụm công trình
di tích lịch sử, vǎn hóa, kiến trúc có giá trị, đã xếp hạng, trong đó
có nhà thờ, nhà ở cổ, nhà ở có vườn. Cải tạo điều kiện sinh sống của
nhân dân trong khu vực: hiện đại hóa hệ thống hạ tầng kỹ thuật và trang
thiết bị (các hệ thống thoát nước thải, thu gom rác thải, cấp nước, cấp
điện, chiếu sáng, thông tin liên lạc).
- Nhà dân được phép cải tạo hoặc xây mới có được theo các thiết kế thoải mái không? Tôi hỏi.
- Phải theo quy định:
nhà giáp mặt phố (lớp ngoài) không vượt quá ba tầng, lợp mái ngói ta,
chiều cao tối đa đến đỉnh mái không quá 12 m, dùng vật liệu và họa tiết
trang trí truyền thống. Nhà ở phía trong không vượt quá bốn tầng, chiều
cao tối đa đến đỉnh mái không quá 16 m.
Bà nhấn mạnh:
- Thành phố sẽ giảm dần dân cư trong khu phố cổ, tǎng diện tích cây xanh hè phố, sân vườn, sân chơi.
- Từ nay đến ngày kỷ niệm 990 nǎm Thǎng Long - Hà Nội, Ban quản lý phố cổ còn làm những gì nữa?
- Sau hai ngôi nhà 87 Mã
Mây, 38 Hàng Đào đã tôn tạo, tạm dùng làm nơi tham quan cho khách du
lịch, chúng tôi tiếp tục tôn tạo một số nhà cổ khác theo phương châm
"Nhà nước và nhân dân cùng làm". Tuyến đường Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng
Đường, Đồng Xuân sẽ là tuyến đường dành riêng cho người đi bộ. Đang
nghiên cứu tổ chức phố ẩm thực. Phố Tống Duy Tân sẽ là phố ẩm thực bán
những món ǎn đặc sản của các miền đất nước.
Nghe bà nói, tôi hiểu
từng bước chuyển động của khu phố cổ, lại nhớ tết Con Rồng vừa rồi, hai
vợ chồng đứa cháu ở Pháp về, đêm nào cũng mò đi ǎn quà đêm cho hết nhớ,
không quên vác máy camera đi quay các chợ hoa, phố cổ để đem sang Pa-ri
cho bố mẹ xem. Các cháu nói:
- Bác ơi, ba mẹ cháu nhớ Hà Nội lắm, cứ dặn chúng cháu đến xem phố cổ có còn không hay hóa thành phố hiện đại rồi.
Giá mà có thể giữ mãi gương mặt phố cổ của người xưa!